LÝ THUYẾT SÓNG ELLIOTT (ELLIOTT WAVE THEORY)

PHẦN 3: PHÂN TÍCH CHI TIẾT CÁC MÔ HÌNH SÓNG ELLIOTT
I. Các mô hình sóng Elliott theo dạng sóng chủ
(Các sóng xu hướng – trending wave)

Bài 06: Mô hình sóng Extension
1. Hình vẽ:



2. Mô tả:

Mô hình sóng Extension (mô hình sóng mở rộng) xảy ra trong một sóng chủ nơi mà các sóng 1, 3 hoặc 5 có thể mở rộng và kéo dài hơn các sóng khác. Mô hình mở rộng phổ biến nhất là mở rộng sóng 3 và khi đó hai sóng 1, 5 có xu thế bằng nhau; mô hình này có tên gọi là Extension3. Nếu sóng 1 mở rộng thì có tên gọi là Extension1, nếu sóng 5 mở rộng thì có tên gọi là Extension5; hai mô hình này ít phổ biến hơn mô hình Extension3. Ở đây chỉ giới thiệu sâu hơn về mô hình Extension3.

3. Quy tắc:

(1) Mô hình Extension3:

- Mô hình Extension3 gồm 9,13 hoặc 17 sóng. Sóng 2 không thể dài hơn Sóng 1 về giá và nó không chạy vượt xuống dưới điểm khởi nguồn của Sóng 1.

- Sóng 3 không bao giờ là sóng ngắn nhất khi so sánh với các sóng 1 và 5.

- Sóng 4 không thể xuống dưới Sóng 1.

- Sóng 5 phải vượt qua điểm cuối của Sóng 3.

- Sóng 3 mở rộng cho thấy tốc độ tăng giá cao nhất.

(2) Mô hình Extension1:

- Mô hình Extension1 gồm 9 sóng con. Sóng 2 không thể dài hơn Sóng 1 về giá và nó không chạy vượt xuống dưới điểm khởi nguồn của Sóng 1.

- Sóng 4 không thể xuống dưới Sóng 1.

- Sóng 1 mở rộng vì thế các sóng 3 và 5 là các sóng bình thường.

(3) Mô hình Extension5:

- Mô hình Extension5 gồm 9 sóng con. Sóng 2 không thể dài hơn Sóng 1 về giá và nó không chạy vượt xuống dưới điểm khởi nguồn của Sóng 1.

- Sóng 4 không thể xuống dưới Sóng 1.

- Sóng 5 mở rộng vì thế các sóng 1 và 3 là các sóng bình thường.

4. Vị trí xuất hiện:

Mô hình Extension xuất hiện ở các sóng 1,3,5 và các sóng A, C thuộc quá trình điều chỉnh (Correction).

5. Cấu trúc sóng bên trong:

Mô hình Extension bao gồm tối thiểu 9 sóng dù 13 hay 17 sóng có thể xảy ra. Cấu trúc sóng bên trong tối thiểu của 9 sóng theo dạng 5-3-5-3-5-3-5-3-5. Chú ý rằng các dạng 3 sóng là các sóng điều chỉnh bao gồm 5 sóng theo mô hình tam giác điều chỉnh.

(Bài viết chỉ mang tính tham khảo)
LÝ THUYẾT SÓNG ELLIOTT (ELLIOTT WAVE THEORY)

PHẦN 3: PHÂN TÍCH CHI TIẾT CÁC MÔ HÌNH SÓNG ELLIOTT
I. Các mô hình sóng Elliott theo dạng sóng chủ
(Các sóng xu hướng – trending wave)

Bài 05: Mô hình sóng Impulse
1. Hình vẽ:


2. Mô tả:

Mô hình sóng Impulse (mô hình sóng chủ) luôn gồm 5 sóng được ký kiệu là 1, 2, 3, 4, 5. Các sóng 1, 3 và 5 lại chứa các sóng con theo mô hình Impulse và xấp xỉ bằng nhau về chiều dài. Các sóng 2 và 4 luôn theo các mô hình điều chỉnh.

3. Quy tắc:

- Sóng 2 không thể dài hơn Sóng 1 về giá và nó không chạy vượt xuống dưới điểm khởi nguồn của Sóng 1.

- Sóng 3 không bao giờ là sóng ngắn nhất khi so sánh với các sóng 1 và 5.

- Sóng 4 không thể xuống phạm vi Sóng 1.

- Sóng 3 có xung lượng lớn nhất ngoại trừ khi sóng 5 là sóng mở rộng.

- Sóng 5 phải vượt qua điểm cuối của Sóng 3.

- Các sóng 2 và 4 có thể tùy chọn theo các mô hình điều chỉnh khác nhau.

4. Vị trí xuất hiện:

Mô hình Impulse xuất hiện ở các sóng 1,3,5 và các sóng A, C thuộc quá trình điều chỉnh (Correction). Mô hình này còn xuất hiện trong các quá trình điều chỉnh tại các sóng 2, 4, X hoặc B.

5. Cấu trúc sóng bên trong:

Mô hình Impulse bao gồm 5 sóng. Cấu trúc sóng bên trong của 5 sóng này theo dạng 5-3-5-3-5. Chú ý rằng các dạng 3 sóng là các sóng điều chỉnh bao gồm 5 sóng theo mô hình tam giác điều chỉnh.

(Bài viết chỉ mang tính tham khảo)
LÝ THUYẾT SÓNG ELLIOTT (ELLIOTT WAVE THEORY)

PHẦN 3: PHÂN TÍCH CHI TIẾT CÁC MÔ HÌNH SÓNG ELLIOTT
Bài 04: Giới thiệu khái quát các mô hình sóng Elliott phức tạp

Việc nghiên cứu các mô hình sóng rất quan trọng để vận dụng nguyên tắc sóng Elliott một cách chính xác. Một mô hình xu hướng giá thị trường nếu được xác định chính xác thì không chỉ cho bạn biết được giá thị trường sẽ tăng hoặc giảm đến đâu mà còn cho biết xu hướng thị trường diễn ra như thế nào.

Khi bạn có thể nhận ra các mô hình và vận dụng các mô hình đó chính xác thì bạn có thể giao dịch theo nguyên tắc sóng Elliott. Điều này không dễ dàng mà thành công được song sau khi nghiên cứu từng bước và tỉ mỉ với phương châm “chậm mà chắc” thì bạn sẽ nhận thấy nó dễ dàng hơn.

Các mô hình sóng Elliott phức tạp bao gồm những mô hình sau đây:

I. Các xu hướng (Trends):

1. Mô hình Impulse:

2. Mô hình Extension:

3. Mô hình Leading Diagonal Triangle:

4. Mô hình Ending Diagonal Triangle:

5. Mô hình Failure or Truncated 5th:

II. Các quá trình điều chỉnh (Corrections):

1. Mô hình Zigzag:

2. Mô hình Flat:

3. Mô hình Triangle:

- Contracting Triangle:

- Expanding Triangle:

4. Mô hình kết hợp Double Three và Triple Three:

(Bài viết chỉ mang tính tham khảo)
LÝ THUYẾT SÓNG ELLIOTT (ELLIOTT WAVE THEORY)

PHẦN 2: LÝ THUYẾT CƠ BẢN CỦA NGUYÊN LÝ SÓNG ELLIOTT
Bài 03: Quy tắc của các mô hình sóng Elliott cơ bản

I. Tâm lý thị trường theo các bước sóng Elliott
Để hiểu hoàn toàn lý thuyết sóng Elliott thì cần phải hiểu tâm lý thị trường tại mỗi bước sóng kể từ khi dao động giá zigzag thể hiện những thay đổi theo tâm lý lạc quan hay bi quan của nhà đầu tư.

Dưới đây là phân tích tích tâm lý mô hình 8 sóng điển hình của thị trường đầu cơ giá lên (bull market). Trong thị trường đầu cơ giá xuống (bear market) thì phân tích ngược lại.

Sóng chủ số 1: Đợt sóng đầu tiên này có điểm xuất phát từ thị truờng đầu cơ giá xuống (suy thóai), do đó sóng 1 ít khi được nhận biết ngay từ đầu. Lúc này thông tin cơ bản vẫn đang là thông tin tiêu cực. Chiều hướng của thị trường trước khi sóng 1 xảy ra chủ yếu vẫn là thị truờng suy thoái. Khối lương giao dịch có tăng chút ít theo chiều hướng giá tăng. Tuy vậy việc tăng giá này là không đáng kể. Do đó nhiều nhà phân tích kỹ thuật không nhận ra sự có mặt của đợt sóng số 1 này.

Sóng chủ số 2: Sóng chủ 2 sẽ điều chỉnh sóng 1, nhưng điểm thấp nhất của sóng 2 không bao giờ vượt qua điểm xuất phát đầu tiên của sóng 1. Tin tức dành cho thị trường vẫn chưa khả quan. Thị trường đi xuống ở cuối sóng 2 để thực hiện việc “kiểm tra” độ thấp của thị trường. Những người theo xu thế đầu cơ giá xuống vẫn đang tin rằng thị trường theo xu hướng đầu cơ giá xuống vẫn đang ngự trị. Khối lượng giao dịch sẽ ít hơn đợt sóng 1. Giá sẽ được điều chỉnh giảm và thuờng nằm trong khoảng 0.382 đến 0.618 của mức cao nhất của sóng 1.

Sóng chủ số 3: Thông thường đây là sóng lớn nhất và mạnh mẽ nhất của xu hướng tăng giá. Ngay đầu sóng 3, thị trường vẫn còn nhận những thông tin tiêu cực vì vậy có nhiều nhà đầu tư không kịp chuẩn bị để mua vào. Khi sóng 3 đang ở lưng chừng, thị trường bắt đầu nhận những thông tin cơ bản tích cực. Mặc dù có những đợt điều chỉnh nho nhỏ trong lòng của sóng 3, giá của sóng 3 tăng lên với tốc độ khá nhanh. Điểm cao nhất của sóng 3 thường cao hơn điểm cao nhất của sóng 1 với tỷ lệ 1.618 hoặc thậm chí là 261.8%.


Sóng chủ số 4: Đây thật sự là một con sóng điều chỉnh. Giá có khuynh hướng đi xuống và đôi khi có thể tạo kiểu răng cưa kéo dài. Sóng 4 thường sẽ điều chỉnh sóng 3 với mức 0.382 – 0.618 của sóng 3. Khối lượng giao dịch của sóng 4 thấp hơn khối lượng giao dịch của sóng 3. Đây là thời điểm để mua vào nếu như nhà đầu tư nhận biết được tiềm năng tiếp diễn liền sau đó của con sóng 5. Tuy vậy việc nhận biết điểm dừng của sóng 4 là một trong những khó khăn của các nhà phân tích kỹ thuật trường phái sóng Elliott.

Sóng chủ số 5: Đây là đợt sóng cuối cùng của 5 con sóng “chủ”. Thông tin tích cực tràn lan khắp thị trường và ai cũng tin rằng thị trường đang ở trong thế đầu cơ giá lên. Khối lượng giao dịch của sóng 5 khá lớn, tuy vậy thông thường vẫn nhỏ hơn sóng 3. Điều đáng nói là những nhà đầu tư “không chuyên nghiệp” thường mua vào ở những điểm gần cuối sóng 5. Vào cuối con sóng 5, thị trường nhanh chóng chuyển hướng. Điểm cao nhất của sóng 5 cao hơn điểm cao nhất của sóng 3 với tỷ lệ 161.8%.

Sóng điều chỉnh A: Sóng này bắt đầu cho đợt sóng điều chỉnh A – B - C. Trong thời gian diễn ra sóng A, thông tin cơ bản vẫn đang rất lạc quan. Mặc dù giá xuống, nhưng phần đông các nhà đầu tư vẫn cho rằng thị trường đang trong xu thế đầu cơ giá lên. Khối lượng giao dịch tăng trưởng khá đều đặn theo con sóng A. Sóng A thường hoàn lại từ 38.2% đến 61.8% so với sóng 5.

Sóng điều chỉnh B: Giá tăng trở lại và với mức cao hơn so với điểm cuối sóng A. Sóng B được xem là điểm kéo dài của thị trường đầu cơ giá lên. Đối với những người theo trường phái phân tích kỹ thuật cổ điển, điểm B chính là vai phải của mô hình đồ thị Đầu và Vai. Khối lượng giao dịch của sóng B thường thấp hơn sóng A. Vào lúc này, những thông tin cơ bản không có những điểm tích cực mới, thế nhưng cũng chưa chuyển hẳn qua tiêu cực. Sóng B thường hoàn lại từ 38.2% đến 61.8% so với sóng A.

Sóng điều chỉnh C: Giá có khuynh hướng giảm nhanh hơn các đợt sóng trước. Khối luợng giao dịch tăng. Hầu như tất cả mọi nhà đầu tư đều nhận thấy rõ sự ngự trị của xu thế đầu cơ giá xuống trên thị trường, chậm nhất là trong đợt sóng nhỏ thứ 3 của sóng C. Sóng C thường lớn như sóng A hoặc cũng thường mở rộng 1.618 lần so với sóng A hoặc hơn.

II. Các quy tắc đếm sóng Elliott:

- Quy tắc 1: Sóng 2 không bao giờ hoàn lại 100% so với sóng 1. Nói cách khác, sóng 2 không nên vượt qua điểm khởi đầu sóng 1.


- Quy tắc 2: Sóng 4 không bao giờ hoàn lại 100% so với sóng 3. Nói cách khác, sóng 4 không nên vượt qua điểm khởi đầu sóng 3.


- Quy tắc 3: Sóng 4 không bao giờ nằm dưới đỉnh của sóng 1.


- Quy tắc 4: Trong các sóng 1-3-5 thì sóng 3 luôn luôn là sóng dài nhất.


Chú ý: Các quy tắc này chỉ áp dùng cho các mô hình sóng Elliott cơ bản.





LÝ THUYẾT SÓNG ELLIOTT (ELLIOTT WAVE THEORY)

LÝ THUYẾT SÓNG ELLIOTT (ELLIOTT WAVE THEORY)

PHẦN 2: LÝ THUYẾT CƠ BẢN CỦA NGUYÊN LÝ SÓNG ELLIOTT
Bài 02: CÁC MÔ HÌNH SÓNG ELLIOTT CƠ BẢN

Nội dung lý thuyết cơ bản của nguyên lý sóng Elliott bao gồm 2 phần: (1) Các mô hình sóng cơ bản và (2) Quy tắc của các mô hình sóng cơ bản. Ở bài 02 xin giới thiệu về các mô hình sóng cơ bản.

I. Mô hình 5 sóng – mô hình 3 sóng – mô hình 8 sóng:

Theo ông Elliott, sự thay đổi của giá cả sẽ tạo ra những cơn sóng theo như hình vẽ dưới đây:


Trong đó một mô hình sóng cơ bản sẽ có 5 sóng chủ (impulsive Sóng) được đánh số theo số đếm 1-2-3-4-5 và 3 sóng điều chỉnh (corrective Sóng) được đánh số theo chữ cái A-B-C. Trong 5 sóng chủ thì sóng số 1, 3 và số 5 gọi là sóng “chủ và động” (motive Sóng), và sóng 2, 4 gọi là sóng “chủ và điều chỉnh” (corrective Sóng). Trong mỗi một con sóng như vậy lại có những con sóng nhỏ và cũng tuân theo quy luật của lý thuyết sóng Elliot. Một đợt sóng chủ hòan chỉnh sẽ có 89 sóng và đợt sóng điều chỉnh hoàn chỉnh sẽ có 55 sóng.

Tựu trung lại thì mô hình 8 sóng hoàn chỉnh tạo thành cấu trúc sóng Elliott điển hình. Mô hình đó có thể đi theo chiều tăng dần (ascending) trong thị trường đầu cơ giá lên (bull market) hoặc theo chiều giảm dần (descending) trong thị trường đầu cơ giá xuống. Nếu xu hướng chính là đi lên thì chúng ta sẽ thấy 5 bước sóng chạy lên theo sau là 3 bước sóng chạy xuống. Nếu xu hướng chính là xuống thì chúng ta sẽ thấy 5 bước sóng chạy xuống theo sau là 3 bước sóng chạy lên điều chỉnh xu hướng chính.

Ralph Nelson Elliott khẳng định rằng ông nghiên cứu và phát minh ra lý thuyết sóng truớc khi biết Fibonacci nhưng những con số trùng hợp đến kỳ lạ: 5 sóng chủ, 3 sóng điều chỉnh, 89 sóng chủ, 55 sóng điều chỉnh cũng như tỷ lệ giá của các con sóng luôn ở chung quanh các tỷ lệ vàng 0.618, 1.618, 0.328. Do đó có một giá thuyết khác cho rằng Ông Elliott đã ứng dụng những con số Fibonacci vào lý thuyết của mình.

II. Các cấp độ sóng Elliott:

Tùy theo thời gian mà độ lớn của sóng sẽ được phân theo thứ tự sau:

- Grand Supercycle: cấp độ sóng siêu chu kỳ lớn, sóng kéo dài nhiều thập kỷ, đôi khi cả thế kỷ.

- Supercycle: cấp độ sóng siêu chu kỳ kéo dài từ vài năm đến vài thập kỷ.

- Cycle: cấp độ sóng chu kỳ kéo dài từ 1 đến vài năm.

- Primary: cấp độ sóng xu hướng chính kéo dài từ vài tháng đến 2 năm.

- Intermediate: cấp độ sóng xu hướng trung hạn kéo dài từ vài tuần đến vài tháng.

- Minor: cấp độ sóng con kéo dài trong vài tuần.

- Minute: cấp độ sóng nhỏ kéo dài trong vài ngày.

- Minuette: cấp độ sóng rất nhỏ kéo dài trong vài giờ.

- Subminutte: cấp độ sóng siêu nhỏ kéo dài trong vài phút.

Một sóng chủ theo sau là một sóng điều chỉnh hình thành một cấp độ sóng Elliott, bao gồm xu hướng (trend) và sự điều chỉnh xu hướng (counter-trend).

Hình minh họa dưới đây cho thấy sự khác nhau giữa một xu hướng (sóng chủ) và một quá trình điều chỉnh xu hướng (dao động giá dập dềnh với các bước sóng chồng chéo). Nó cũng cho thấy các xu hướng lớn hơn bao gồm nhiều xu hướng nhỏ hơn và sự điều chỉnh nhỏ hơn song kết quả thì luôn luôn giống nhau.


Điều quan trọng khi hiểu nguyên tắc sóng Elliott là khái niệm cơ bản cho rằng các cấu trúc sóng ở cấp độ lớn hơn bao gồm những sóng con nhỏ hơn và lần lượt những sóng đó bao gồm những sóng thuộc cấp độ thấp hơn. Elliott phân biệt 9 cấp độ sóng dao động thời gian từ 2 thế kỷ cho đến vài phút như hình minh họa dưới đây.


(Bài viết chỉ mang tính tham khảo)


LÝ THUYẾT SÓNG ELLIOTT (ELLIOTT WAVE THEORY)

Lời mở đầu: Lý thuyết sóng Elliott là một phân nhánh rất phức tạp và cũng rất lý thú trong phân tích kỹ thuật. Để am hiểu nó thì cần phải có phương pháp nghiên cứu khoa học.

Nội dung chương lý thuyết sóng Elliott bao gồm các phần sau:

(1) Giới thiệu chung về lý thuyết sóng Elliott

(2) Lý thuyết cơ bản

(3) Phân tích chi tiết các mô hình sóng Elliott

(4) Phương pháp vẽ kênh giá và kết hợp tỷ lệ Fibonacci trong lý thuyết sóng Elliott

PHẦN 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ LÝ THUYẾT SÓNG ELLIOTT

BÀI 01: Giới thiệu chung về lý thuyết sóng Elliott

Nguyên lý sóng Elliott được Ralph Nelson Elliott khám phá vào thập niên 1930. Thời đó ông Elliott đã nhận thấy rằng các thị trường chứng khoán không hành xử trong một kiểu hỗn loạn nào cả mà dao động trong một trật tự nhất định theo những chu kỳ có tính lặp lại, phản ánh những hành động và cảm xúc của con người được gây ra bởi những ảnh hưởng bên ngoài hoặc tâm lý đám đông.


Elliott giải thích rằng sự dao động lên hay xuống của tâm lý đám đông luôn luôn cho thấy những mô hình lặp đi lặp lại giống nhau theo các phân đoạn khác nhau cái mà sau đó, khi phân chia các phân đoạn đó ông đã đặt cho nó cái tên là “các bước sóng” nhờ đó Elliott đã khám phá bản chất phân đoạn của hành động thị trường. Ông đã có thể phân tích các thị trường một cách chuyên sâu hơn, nhận diện những đặc trưng riêng biệt của những mô hình sóng đồng thời đưa ra những dự báo thị trường chi tiết dựa vào những mô hình sóng mà ông nhận diện.

Sự phân đoạn là những cấu trúc toán học trên một phạm vi thậm chí nhỏ song hoàn toàn tự lặp lại. Những mô hình mà Elliott khám phá được xây dựng theo cùng phương pháp. Chẳng hạn mô hình sóng chủ (impulsive wave) thường đi theo xu hướng chính luôn thể hiện 5 bước sóng trong mô hình của nó. Trong một phạm vi nhỏ hơn thì mỗi một bước sóng chủ trong mô hình sóng chủ đó lại chứa 5 bước sóng nhỏ. Trong mô hình sóng nhỏ này thì nó cũng tự lặp lại kiểu các bước sóng. Đó là hiện tượng sóng trong sóng.


Chỉ khá lâu sau thì sự phân đoạn mới được các nhà khoa học thừa nhận. Vào thập niên 1980, nhà khoa học Mandelbrot đã chứng minh sự tồn tại của sự phân đoạn trong cuốn sách “Hình học phân đoạn của tự nhiên” của ông. Mandelbrot đã thừa nhận cấu trúc phân đoạn trong nhiều đối tượng và hình thái sự sống, một hiện tượng mà Elliott đã hiểu vào thập niên 1930.

Vào thập niên 1970, Nguyên lý sóng Elliott đã giành được sự phổ biến nhờ công trình nghiên cứu của Frost và Prechter. Họ đã xuất bản một cuốn sách nổi tiếng về sóng Elliott (một cẩm nang không thể thiếu đối với mọi học viên sóng Elliott). Cuốn sách đó có tên là: “Nguyên lý sóng Elliott, chìa khóa mang lại lợi nhuận trong thị trường chứng khoán”, được xuất bản vào năm 1978. Trong cuốn sách hai ông đã dự báo vào giữa cuộc khủng hoảng trong thập niên 1970 thì sẽ báo hiệu cho thị trường đầu cơ giá lên mạnh mẽ vào thập niên 1980. Không chỉ họ đã dự báo chính xác mà chính Robert R. Prechter cũng dự báo về sự suy sụp của thị trường chứng khoán Mỹ năm 1987 một cách rất chính xác.

Sau nhiều năm nghiên cứu thì Elliott đã biết được cách vận dụng những mô hình sóng vào thị trường chứng khoán, bên cạnh đó ông cũng kết hợp dự báo theo tỷ lệ Fibonacci. Những điều ông nghiên cứu đã được xuất bản trong vài cuốn sách đã đặt nền móng cho những người như Bolton, Frost và Prechter mà nhờ đó họ đã có những dự báo đem lại lợi nhuận không chỉ trong các thị trường chứng khoán mà tất cả các thị trường khác.

Chúng ta là những người đi sau, được diễm phúc tiếp thu những tinh hoa của các bậc tiền bối. Tại sau chúng ta không từng bước nghiên cứu và vận dụng những tinh hoa đó vào thực tiễn? Và chúng ta có thể vận dụng linh hoạt hơn, sáng tạo hơn để kinh nghiệm của cha ông khi bị mai một mà ngày càng phong phú hơn theo thời gian.
1.Fibonacci thoái lui
-Trong xu hướng lên, chúng ta có thể mua khi thị trường thoái lui tại những mức ủng hộ (support) của Fibonacci thoái lui (Fibonacci retracement). Các mức này được vẽ từ điểm thấp nhất tới một điểm cao nhất trong xu hướng tăng lên trước đó. Các mức thoái lui sẽ xuất hiện và cho bạn biết rõ tỉ lệ của từng mức. Chúng ta hãy xem 1 ví dụ cụ thể khi thị trường đang trong xu hướng đi lên.
Đây là chart H1 của cặp tiền USD/JPY. Chúng ta vẽ mức Fibonacci Thoái lui bằng cách click từ điểm giá thấp nhất 110.78 vào ngày 07/12/05 và kéo đến đỉnh giá cao nhất tại 112.27 ngày 07/13/05. Sau đó chúng ta sẽ thấy các mức Fibonacci sẽ được tính toán và vẽ ra. Các mức Fibonacci Thoái lui gồm 111.92 (0.236), 111.70 (0.382), 111.52 (0.500) và 111.35 (0.618).
Bây giờ chúng ta sẽ mong muốn tỉ giá USD/JPY sẽ thoái lui chạm 1 trong các mức hỗ trợ , và nhà đầu tư sẽ có thể đặt lệnh BUY tại những mức cản này để chờ giá sau khi chạm mức hỗ trợ sẽ tiếp tục đi lên.
fibonacci retracement 1 Fibonacci thoái lui
Bây giờ chúng ta hãy xem chuyện gì đã xảy ra . Tỉ giá lùi ngược lại, qua khỏi mức 0.236 và tiếp tục qua mức 0.382 nhưng không có nến nào đóng cửa dưới mức 0.382. Sau đó, thị trường tiếp tục đi lên. Có thể thấy rõ ràng là BUY tại mức 0.382 là một quyết định vào lệnh tốt.
fibonacci retracement 2 Fibonacci thoái lui
Bây giờ chúng ta xem nếu thị trường đang trong xu hướng xuống thì chúng ta có thể sử dụng Fibonacci Thoái lui như thế nào. Hình minh họa là biểu đồ H1 (1 giờ) của cặp tiền EUR/USD. Như bạn thấy, đỉnh giá cao nhất tại 1.3278 vào ngày 02/28/05 và đáy thấp nhất giá 1.3169. Các mức Fibonacci Thoái lui gồm có 1.3236 (0.618), 1.3224 (0.500). 1.3211 (0.382), và 1.3195 (0.236). Nhà đầu tư sẽ chờ đợi giá lui về các mức fibonacci và vào lệnh SELL , họ mong đợi giá sẽ tiếp tục xuống sau khi chạm vào các mức kháng cự này.
fibonacci retracement downtrend Fibonacci thoái lui
Bây giờ hãy xem giá đi về đâu nhé. Quả là một ngày tươi đẹp. Tỉ giá dường như đã phục hồi nhưng chỉ chớm mức 0.500 và nến đóng cửa dưới mức cản 0.500 này. Ở nến tiếp theo, bạn có thể thấy xu hướng xuống được tiếp diễn. Bạn cũng có thể SELL thêm tại mức 0.382
fibonacci retracement downtrend after Fibonacci thoái lui
Sau đây là 1 ví dụ khác. Hình minh họa sử dụng biểu đồ H1 GBP/USD. Chúng ta có đỉnh giá tại 1.7438 vào ngày 07/26/05 và đáy giá tại 1.7336 vào ngày tiếp theo. Các mức Fibonacci được vẽ ra là 1.7399 (0.618), 1.7387 (0.500), 1.7375 (0.382) và 1.7360 (0.236). Nhìn vào biểu đồ, dường như giá đã cố gắng phá mức 0.500 vài lần, nhưng cuối cùng không thành công. Như vậy đặt 1 lệnh SELL tại mức 0.500 liệu có phải là một quyết định đúng ?
fibonacci false retracement before Fibonacci thoái lui
Nếu bạn vào lệnh SELL tại đây, bạn đã bị lỗ !. Nhìn xem chuyện gì đã xảy ra. Giá thấp nhất lúc nãy dường như là đáy của xu hướng xuống vừa rồi và sau đó thị trường đã phục hồi , đi lên vượt trên cả mức giá đỉnh cao cũ.
fibonacci false retracement after Fibonacci thoái lui
Qua những ví dụ trên, có thể thấy khi thị trường đang trong xu hướng đi lên, Fibonacci Thoái lui sẽ cho chúng ta biết những mức ủng hộ (support), cũng như khi thị trường trong xu hướng xuống, Fibonacci Thoái lui sẽ cho biết những mức kháng cự (resistance) . Và như vậy, rõ ràng là chúng ta có thể tìm thấy những vị trí để đặt lệnh. Không có cách nào để biết chắc chắn trước mức Fibonacci Thoái lui nào dẽ trở thành mức ủng hộ / kháng cự. Có vẻ như mức 0.236 là một mức ủng hộ / kháng cự yếu, trong khi những mức còn lại thì trở thành mức ủng hộ / kháng cự thường xuyên hơn. Dù các biểu đồ trên cho thấy thị trường thường hay lùi về mức 0.382 thì cũng không có nghĩa là giá sẽ luôn đổi hướng mỗi khi chạm mức này. Có lúc giá chạm mức 0.500 rồi đổi chiều, cũng có khi chạm mức 0.618 rồi mới đổi chiều. Và cũng rất đáng tiếc là có những trường hợp giá hoàn toàn bỏ qua những gì mà Fibonacci Thoái lui tính toán. Hãy luôn nhớ rằng, thị trường không phải lúc nào cũng chạm mức Fibonacci thoái lui sau đó quay lại xu hướng cũ.
Việc đặt Stop loss cũng là cả 1 vấn đề. Dường như vị trí tốt để đặt Stop loss là dưới điểm thấp của Fibonacci Thoái lui trong xu hướng đi lên và đặt trên điếm cao của Fibonacci Thoái lui trong xu hướng đi xuống. Tuy nhiên, bạn cũng cần hiểu rõ nếu bạn chấp nhận có thể lỗ một khoảng như vậy thì nếu lời bạn phải có lời bao nhiêu là xứng đáng. Người ta thường gọi tỉ lệ này là tỉ lệ phần thưởng / rủi ro.

*KHI FIBONACCI THẤT BẠI :
Chúng ta đã từng nói rằng, các mức hỗ trợ và kháng cự cũng bị phá vỡ. Điều này cũng xảy ra đối với các mức Fibonacci.
Hãy xem một ví dụ khi Fibanacci thoái lui cho kết quả không đúng.
Bên dưới là biểu đồ 4 giờ của cặp GBP/USD.
Ở đây, bạn thấy rằng cặp tiền đang trong xu hướng xuống, và bạn quyết định sử dụng Fibonacci để giúp bạn tìm ra một điểm vào lệnh giao dịch tốt. Bạn vẽ từ đỉnh sóng tại 1.5383 tới đáy sóng tại 1.4799.
Bạn thấy rằng cặp tiền tệ đang dao động tại mức 50.0% trong khoảng thời gian vài nến.
Bạn tự nhủ : “Oh, đó là mức 50.0% Fibonacci, nó đang bị giữ lại, đây là lúc nên bán ra”
Bạn bắt đầu bán GBP/USD và mơ màng về việc sẽ mua gì với số tiền kiếm được.
fibonacci fail start Khi Fibonacci thất bại
Bây giờ, nếu thực sự đã đặt một lệnh tại mức trên, không chỉ giấc mơ của bạn sẽ tan thành mây khói, mà tài khoản của bạn cũng sẽ gặp vấn đề lớn nếu bạn không có quản lý rủi ro!
Hãy xem cái gì xảy ra.
fibonacci fail end Khi Fibonacci thất bại
Nó cho thấy rằng đáy sóng đã là đáy của xu hướng xuống và thị trường đang chuyển sang xu hướng lên đến đỉnh sóng.
Bài học ở đây là gì ?
Khi mức Fiboancci thực sự mang lại cho bạn cơ hội cao hơn để giao dịch thành công, nhưng cũng như các công cụ kỹ thuật khác, chúng không phải lúc nào cũng chính xác. Bạn cũng không biết giá sẽ đổi chiều ở mức 38.% trước khi quay trở lại xu hướng.
Một vấn đề thường gặp trong việc sử dụng Fibonacci là xác định đỉnh và đáy sóng.
Mọi người có cách nhìn biểu đồ khác nhau, trong một khung thời gian khác nhau, và có những quan điểm phân tích cơ bản của riêng họ, do đó cũng có những ý kiến khác nhau về đỉnh hay đáy sóng.
Điểm mấu chốt là không có một quy luật tuyệt đối nào, đặc biệt khi xu hướng trên biểu đồ không rõ ràng. Đôi khi nó giống như đoán mò vậy.
Đó là lý do tại sao bạn cần phải trau dồi kỹ năng và kết hợp công cụ Fibonacci với các công cụ khác để giúp bạn tìm ra được khả năng thành công cao hơn.


CHƯƠNG 1 : giới thiệu về indicator và phần mềm giao dịch
1) phần mềm giao dich :
- đối với forex chúng ta thực hiện việc mua và bán được rất nhiều thuận lợi khi thực hiện giao dịch trên phần mềm (MT4,MT5). phần mềm thông dụng cho các trader hiện nay là phần mềm MT4 vì dể giao dịch và sử dụng các indicator thuận tiện và dể dàng
2) indicator là gì: .indicator là các công cụ và thông số mà các thưng nhân dựa vào đó để phân tích thị trường (theo phân tích kỷ thuật) để thực hiện việc mua và bán .(nói cho dể hiểu ta muốn vẽ 1 bức tranh thì cần có giấy vẽ , bút chì bút màu ) những thứ này được gọi là indicator.
3) các loại indicator:
indicator trong forex thì có khá nhiều trong nội dung bài này tôi sẽ giới thiệu các indicator cơ bản giúp ích cho việc phân tích của các bạn sàu này.
1.Fibonacci: ( tại sao tôi đưa fibonacci lên đầu tiền vì nó rất quan trọng và ảnh hưởng rất nhiều đến kết quả sàu này của các bạn ).
- Chúng ta sẽ sử dụng tỉ lệ Fibonacci rất nhiều .
 +  Chúng ta sẽ tìm hiều 2 loại Fibonacci chính là Fibonacci thoái lui ( retracement) và Fibonacci mở rộng (extension).
Trước tiên, chúng tôi muốn giới thiệu đôi chút về nhà toán học Leonard Fibonacci.
Leonardo Pisano (1170-1250), tên thường gọi là Fibonacci một nhà toán học người Ý, đã sáng tạo ra các chuỗi thuộc số mang tên ông. Từ trái qua phải sau 2 số đầu tiên , giá trị gia tăng dần trong chuỗi số mà mỗi số sau được quyết định bởi tổng của 2 số liên tiếp phía trước. Ví dụ :
1, 1, 2, 3, 5, 8, 13, 21, 34, 55, 89, 144, 233, 377 số kế tiếp là 610….
Bò qua một vài con số đầu tiên trong dãy số, nếu bạn lấy tỉ lệ của bất kì con số nào với con số kế tiếp ngay sau nó, kết quả sẽ là 0.618. Ví dụ : 34/55 = 0.618.
Nếu bạn lấy tỉ lệ luân phiên giữa các số , lấy 1 số bất kỳ chia cho số kế tiếp của số kế tiếp sau nó, kết quả sẽ là 0.382. Ví dụ, 34/89 = 0.382. Và đặc biệt  : 1-0.618 = 0.382.
Những tỉ lệ này được gọi là tỉ lệ vàng. Và bây giờ, chúng ta sẽ đi vào vấn đề của Fibonacci
Các mức Fibonacci thoái lui :
0.236, 0.382, 0.500, 0.618, 0.764
Các mức Fibonacci mở rộng :
0, 0.382, 0.618, 1.000, 1.382, 1.618
Bạn sẽ không cần phải biết cách tính tất cả các mức fibonacci trên. Phần mềm giao dịch của bạn sẽ làm diều đó giúp bạn. Nhưng tất nhiên sẽ tốt hơn nếu bạn làm quen dần với những lý thuyết cơ bản này.
Các nhà giao dịch sử dụng các mức Fibonacci thoái lui như các mức kháng cự và hỗ trợ hiệu quả. Họ sử dung các mức này để vào lệnh mua / bán hoặc xác định mức chặn lỗ. Trong khi đó, các mức Fibonacci mở rộng thường được sử dụng trong việc xác định mức lấy lợi nhuận.
Các phần mềm biểu đồ thường có sẵn công cụ vẽ Fibonacci thoái lui và Fibonacii mở rộng. Để vẽ Fibonacci vào biểu đồ, bạn cần xác định điểm thấp nhất và điểm cao nhất trong 1 xu hướng của thị trường
nội dung của fibonacci khá dài nhưng lại rất quan trọng nên tôi sẽ cắt ra và đăng ở phần sau
 CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ NẾN NHẬT (Candlestick)

1).Candlestick (hay còn được gọi là candle – nến Nhật) được sử dụng bởi người Nhật từ thế kỉ 17. Nguyên tắc của Candle rất đơn giản và được đúc kết từ những yếu tố sau:
-  “Như thế nào” (Biến động giá) quan trọng hơn “Tại sao” (tin tức, tác động của thị trường)
-  Tất cả các thông tin đều được hiển thị trên giá
-  Người mua và người bán trên thị trường dựa trên tác động của kì vọng và cảm xúc (hay tham vọng và sự sợ hãi)
-  Biến động giá không phản ánh giá trị thật .
candle01 258x300 Giới thiệu về nến NhậtCandestick được xây dựng bởi 4 yếu tố :
  • giá mở (open)
  • giá đóng (close)
  • giá cao (high)
  • giá thấp (low)
Khung candle hay còn gọi là thân candle có màu trắng hay đen tùy theo vào mức giá. Nếu đóng mở cao hơn giá mở, ta có candle trắng (while candle). Nếu giá đóng thấp hơn giá mở, ta có candle đen (black candle). Đường kẻ phía trên và phía dưới thân candle thể hiện giá cao nhất / thấp nhất của candle và còn được gọi là chân candle hay còn gọi là bóng của candle (shadow). Phần thân thể hiện giá giao dịch mở đầu (open) và kết thúc (close) trong 1 khung thời gian ( 1min, 5min, 15min… 1day, 1week) trong khi phần chân (phần bóng) thể hiện phần giá giao dịch nằm ngoài phạm vi giá mở và giá đóng.
Mua – Bán:

Thân candle càng dài, sức mua / sức bán càng mạnh. Ngược lại, thân candle ngắn thể hiện biến động giá thấp.
Candle trắng thể hiện sức mua. Thân càng dài, sức mua càng mạnh, là dấu hiệu người mua kì vọng cao vào thị trường lên. Nếu nhìn vào tổng quan hơn, khi thị trường đang trong xu hướng xuống, candle trắng dài cho thấy người mua đang xác lập điều khiển thị trường và kì vọng giá lên trở lại.
Candle đen thể hiện sức bán. Thân càng dài, sức bán càng mạnh, là dấu hiệu người bán kì vọng cao vào thị trường xuống. Nếu nhìn vào tổng quan hơn, khi thị trường đang trong xu hướng lên, candle đen dài cho thấy có người bán đang xác lập điều khiển thị trường và kì vọng giá xuống.
candle02 300x300 Giới thiệu về nến Nhật
tôi sẻ nhấn mạnh ở  6 tình huống của cuộc chơi (6 mô hình candlestick):candlestick 6 Giới thiệu về nến Nhật
1. Candle trắng dài (long white candle) cho thấy  MUA kiểm soát bóng trong suốt trận đấu.(nói cho dể hiểu giá sẻ lên)
2. Candle đen dài (long black candle) cho thấy BÁN kiểm soát bóng trong suốt trận đấu.(nói cho dể hiểu giá sẻ xuống)
3. Candle ngắn và không có chân (hoặc chân ngắn), cho thấy không đội nào kiểm soát được bóng và giá hầu như không thay đổi so với lúc ban đầu.
4. Candle với chân phía dưới dài cho thấy  BÁN kiểm soát phần đầu trận đấu, nhưng đã bị mất phần kiểm soát vào bên  MUA vào cuối trận và  MUA giằng co trở lại.
5. Candle với chân phía trên dài cho thấy  MUA kiểm soát phần đầu trận đấu, nhưng đã bị mất phần kiểm soát vào bên  BÁN vào cuối trận và đội BÁN giằng co trở lại.
6. Candle với cả 2 phần chân đều dài cho thấy cả  MUA và BÁN đều có giai đoạn kiểm soát trận đấu, nhưng không ai áp đảo được đối phương, và kết quả là vẫn giằng co nhau.
2) một số mô hình nến cơ bản.
*note: các bạn chú ý các mô hình này rất quan trọng cho việc mua và bán điểm vào và ra khỏi thì trường
trên là những lý thuyết cơ bản về nến nhật tôi đã lược bỏ 1 số phần không cần thiết
forex một loại hình kinh doanh ngoại hối với tỉ lệ đòn bẩy cao , nơi ta có thể kiếm được rất nhiều tiền và ngược lại. á sẽ lên hoặc xuống đế giao dịch đó là cái ta cần học )nói cho đơn giản dể hiểu mua thấp bán cao kiếm lợi nhuận .( làm sao để biết giá sẽ lên hoặc xuống đế giao dịch đó là cái ta cần học )theo thống kê 95% các nhà kinh doanh ( trader) bị thua lổ chỉ có 5% là thành công với thị trường .
- thế những ai sẻ thành thua lổ với nó : đa số là người mới bất đầu ,những người có máu cờ bạc ..Vv -thế những ai thành công với fx: những nhà kinh doanh thực thụ có phương hướng ,cách trade ,đó là kiến thức về forex ,tâm lý , cách quản lý vốn. - thế ta có lọt vào trong top 5% thành công không ? tại sao không nêú ta cố gắng tìm hiểu, học, thử nghiệm đúc kết kinh nghiệm về thị trường
   . - tiềm kiếm 1 bocker uy tín để lập 1 tài khoản thương mại - thư nghiệm với 1 tài khoản demo - tiềm kiếm 1 phương pháp ( steam thích hợp để đem lại lợi nhuận ổn định cho mình . - nạp tiền vào và kinh doanh.
* chú ý :
 -forex không phải là 1 trò chơi mà là nơi ta làm việc để đem lại lợi nhuận , thu nhập phục vụ cho cuộc sống
 -forex không phải là 1 trang cơ bạc cho nhửng người máu bet. -forex không phải là nơi cho người yếu tâm lý . trên đây là những điều sơ lược về forex .
LỜI MỞ ĐẦU :
xin chào tất cả mọi người , bản thân tôi tìm hiểu về forex củng được vài năm , forex đem cho tôi nhiều cảm giác vui có buồn có sợ hải phân khích .tôi củng dở khóc dở cười với với maket một vùng đất màu mở nhưng rất khắc nghiệt này .
qua thời gian tự  học hỏi mày mò thử nghiệm củng như" đóng học phí "cho maket tôi củng dần dần tich lũy nhiều kinh nghiệm củng như kiến thức cơ bản để có thể kiếm được lợi nhuận từ forex
 Tôi tạo blog này nhầm mục đích hướng dẩn cho mọi người có niềm đam mê kinh doạnh ngoại hối đặc biệt là những người có tính kiên nhẩn nhưng chưa có việc làm, nhừng người có nhiều vốn nhưng không biết đầu tư vào đâu để sinh lợi nhuận.> kiến thức về forex  thì rất nhiều trong nội dung blog này tôi sẻ tổng hợp chọn lộc những kiến thức cơ bản cần thiết để chúng ta có thể dể nắm bắt và áp dụng vì forex quan trọng hơn vẩn là thực hành .